Trẻ bị thiếu chất dinh dưỡng sẽ gây ảnh hưởng tới sự phát triển của cơ thể

Chiều cao trung bình của trẻ ở Việt Nam có thể thấp hơn nhiều so với các nước phát triển và các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, do trẻ bị thiếu chất dinh dưỡng.

Thực trang của trẻ bị thiếu chất dinh dưỡng tại Việt Nam

Trẻ có thể bị còi xương, chậm phát triển chiều cao vì thiếu vi chất dinh dưỡng
Trẻ có thể bị còi xương, chậm phát triển chiều cao vì thiếu vi chất dinh dưỡng

Tình trạng thiếu chất dinh dưỡng ở Việt Nam đang diễn ra ở nhiều địa phương, đặc biệt có tỷ lệ cao ở miền núi và nông thôn nhưng chưa được chú ý đúng mức.

Thiếu vitamin A: Năm 1995, Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã thanh toán thiếu vitamin A thể lâm sàng nhưng đang ở tình trạng thiếu trầm trọng, và còn ở mức ý nghĩa sức khỏe cộng đồng. Cụ thể, trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 13%, còn vùng lên tới 16,1% và tỉ lệ vitamin A trong sữa mẹ thấp ở mức 34,8%.

Thiếu máu: Đối với trẻ 5 tuổi thì tỉ lệ thiếu máu do thiếu sắt chiếm tỷ lệ 63,6 %, 54,3% ở phụ nữ có thai và 37,7% phụ nữ tuổi sinh đẻ trong các trường hợp thiếu máu.

Thiếu kẽm: cuối năm 2014 – 2015 cho thấy có 80,3% phụ nữ có thai, 63,6% phụ nữ tuổi sinh đẻ và 69,4% trẻ em dưới 5 tuổi bị thiếu kẽm và được đánh giá là ở mức nặng. Và chủ yếu thường gặp phải ở trẻ dưới 5 tuổi ở miền núi và nông thôn.

Thiếu vitamin D và can xi: Vào năm 2010 trên 19 tỉnh thành của Việt Nam cho thấy tình trạng thiếu vitamin D còn rất phổ biến. Trong đó có tới 40% phụ nữ  ở độ tuổi sinh đẻ và 37% ở trẻ em. Ngoài ra, mức tiêu thụ vitamin D và canxi của phụ nữ và trẻ em Việt Nam cũng mới chỉ đạt 1% và dưới 43% nhu cầu khuyến nghị.

Thiếu I- ốt: Năm 2013 – 2014 theo thống kê cho thấy, tỷ lệ bướu cổ ở trẻ em 8 -10 tuổi là 9,8%, và tỉ lệ hộ gia đình sử dụng muối iốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh khoảng 60%, mức trung vị iốt niệu là 8,4 mcg/dl. Đây là mức thấp nhất trong 10 năm qua. Hiện nay, Việt Nam đang nằm trong số 19 nước trên thế giới có tình trạng thiếu i- ốt nghiêm trọng  và đáng  báo động thực tế tình trạng này đang quay trở lại.

Hệ hụy của việc trẻ bị thiếu vi dinh dưỡng

Vi chất dinh dưỡng là những chất mà cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng. Khi thiếu vi dinh dưỡng sẽ dẫn đến những ảnh hưởng nghiêm trọng cho cơ thể và dễ mắc phải những bệnh thường gặp, đặc biệt là trẻ nhỏ. Vi chất dinh dưỡng gồm nhóm vitamin A, B, C, D, E… và nhóm các nguyên tố khoáng như: canxi, photpho, sắt, kẽm, iod, selen, đồng…

Thẩm mỹ nâng ngực nội soi được coi là giải pháp trẻ hóa da hiệu quả, nhanh chóng đang được chị em ưa chuộng. Nếu bạn có nhu cầu tìm lại tuổi thanh xuân cho làn da hãy liên hệ ngay 0949773555 hoặc đến Viện thẩm mỹ Hà Nội 14 Yên Phụ – Ba Đình – Hà Nội nhận sự tư vấn miễn phí của các bác sĩ thẩm mỹ.

Hiện nay, chiều cao trung bình cả nam và nữ giới ở Việt Nam là khoảng 1,64m và 1,55m. Nguyên nhân chính dẫn tới việc chậm phát triển chiều cao của trẻ là do vị thiếu dinh dưỡng, thấp còi và thiếu vi dưỡng chất.

Trong đó, thiếu vi chất dinh dưỡng là nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng còi xương thấp bé ở trẻ. Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và sự phát triển thể lực, tầm vóc và cản trở sự tăng trưởng toàn diện.

Biện pháp khắc phục tình trạng này?

Để khắc phục tình trạng trẻ thiếu vi chất dinh dưỡng và cải thiện chiều cao, sức khỏe tốt cho con người Việt Nam, ngành y tế cần thực hiện tốt chiến lược phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng
Để khắc phục tình trạng trẻ thiếu vi chất dinh dưỡng và cải thiện chiều cao, sức khỏe tốt cho con người Việt Nam, ngành y tế cần thực hiện tốt chiến lược phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng

Để khắc phục tình trạng trẻ thiếu vi chất dinh dưỡng và cải thiện chiều cao, sức khỏe tốt cho con người Việt Nam, ngành y tế cần thực hiện tốt chiến lược phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng gồm: Bổ sung vi chất dinh dưỡng cho các đối tượng có nguy cơ cao, tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm đa dạng hóa bữa ăn.

Hiện nay, Viện dinh dưỡng đang tập trung nghiên cứu và sản xuất và phát triển các loại sản phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân. Đặc biệt là dành cho các đối tượng có nguy cơ cao như: trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ tuổi sinh đẻ…